Sinh lý tim mạch

139

Bệnh tim mạch là một trong những bệnh lý thuộc nhóm bệnh không lây nhiễm có tỷ lệ tử vong cao nhất tại Việt Nam. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tử vong do bệnh lý tim mạch cao gấp 4 lần tổng tử vong do 3 loại bệnh lý HIV/AIDS, sốt rét bệnh lao cộng lại. Hệ thống tim mạch đóng vai trò rất quan trọng trong cơ thể, có tinh chất sinh mạng đảm nhiệm các chức năng vô cùng quan trọng.

Đường tim mạch của người bình thường được chấn đoán khỏe mạnh là khi mạch tim đập đều và nhịp nhàng. Các tế bào cơ tim có các tính chất điện học đặc biệt giúp các xung động được hình thành và dẫn truyền trong cơ tim tạo ra các hoạt động bóp đồng bộ. Nhưng khi hoạt động bóp này không đồng bộ thì sẽ hình thành rối loạn xung động hoặc rối loạn dẫn truyền xung động, hoặc cả hai sẽ gây ra các bệnh lý nguy hiểm như rối loạn nhịp tim. Một nghiên cứu điện sinh lý tim mạch ra đời và đã trở thành một phương pháp thăm dò quan trọng không thể thiếu trong tim mạch học, đặc biệt trong lĩnh vực rối loạn nhịp tim. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp cho người đọc những thông tin cơ bản của phương pháp này một cách chi tiết nhất.

Điện sinh lý tim mạch là gì?

Điện sinh lý tim mạch hay gọi là thăm dò điện tim sinh lý là một kỹ thuật thăm dò xâm lấn được tiến hành nhằm nghiên cứu và lập bản đồ hoạt động điện của tim mạch. Phương pháp này có liên quan đến việc làm các xét nghiệm chuyên biệt lập bản đồ điện tim cũng như đặt catheter chẩn đoán trong tim mạch.

Ngoài ra, thăm dò điện sinh lý tim cũng được coi là kỹ thuật chẩn đoán chính xác các cơ chế gây rối loạn nhịp tim và tạo nên một cuộc cách mạng trong điều trị các rối loạn nhịp tim. Phương pháp điều trị này bằng năng lượng sóng tần số radio qua đường ống thông được triển khai lần đầu tiên ở nước ta vào năm 1998 hoặc cấy máy tạo nhịp tim vĩnh viễn.

Triệu chứng nào của sinh lý tim mạch?

Rối loạn nhịp tim có thể không triệu chứng hoặc đôi khi thoáng qua có thể gây ra triệu chứng đánh trống trong ngực, có nghĩa là cảm giác tim bỏ nhịp hoặc có nhát đập lúc nhanh hoặc lúc mạnh bất thường. Ngoài ra có thể có các triệu chứng do rối loạn huyết động như trong cơ thể cảm thấy khó thở, tức ngực, thoáng ngất hoặc ngất, thậm chí nặng hơn là ngừng nhịp tim. Một số thì có thể có triệu chứng tiểu nhiều do tăng tiết lượng peptide lợi niệu nhĩ khi có cơn tim nhanh trên thất kéo dài. Việc khám tĩnh mạch cảnh có thể giúp xác định tần số thất và nhịp đều không đều bằng cách bắt mạch hoặc nghe nhịp tim.

Những trường hợp nào chẩn đoán sinh lý tim mạch

Chẩn đoán điện tim sinh lý có thể đánh giá chính xác được toàn bộ hoạt động điện sinh lý của trái tim. Dựa vào đó, các bác sĩ chuyên khoa có thể quan sát và xác định được vị trí, hình thái cũng như mức độ tổn thương đang gặp phải của sinh lý tim mạch. Cụ thể là:

Các rối loạn nhịp tim chậm bao gồm có hội chứng suy nút xoang, rối loạn các đường dẫn truyền qua nút nhĩ thất hoặc dưới nút nhĩ thất. Nhìn chung, chỉ định chẩn đoán trong nhóm nhịp tim chậm không phải là thường quy chủ yếu dựa vào mối liên quan giữa nhịp chậm và triệu chứng hoặc có hay không của rối loạn nhịp chậm nặng hay tình trạng vô tâm thu kéo dài. Thăm dò điện sinh lý tim trong nhóm nhịp chậm chỉ khi các phương pháp này không xâm lấn như khám lâm sàng, điện tâm đồ thường quy, máy ghi biến cố,… Từ đó, giúp phát hiện các rối loạn đường dẫn truyền có thể gây ra biến cố nguy hiểm mà các phương pháp chẩn đoán khác không phát hiện được.

Các rối loạn nhịp chậm là nguyên nhân gây ngất được thăm dò điện sinh lý tim phát hiện ra và do vậy, những trường hợp ngất sau khi đã loại trừ các nguyên nhân không phải rối loạn nhịp tim chậm cũng phải cần được chỉ định thủ thuật.

Các rối loạn nhịp tim nhanh được điện sinh lý tim thăm dò có giá trị đặc biệt trong nhóm các rối loạn nhịp nhanh nhất gây ra do cơ chế vào lại. Điều này, cho phép xác định cơ chế giải phẩu sinh lý gây ra các rối loạn nhịp, lập ra các bản đồ điện học có thể trình tự hoạt hóa điện học và  đánh giá các biến đổi huyết động trong cơn tim nhanh nhịp.

Một số các thiết bị thăm dò điện sinh lý tim

Hệ thống máy chụp mạch kỹ thuật số

Hệ thống thăm dò điện sinh lý tim EP Tracer – 70

Máy phát năng lượng sóng tần số radio

Máy sốc điện và thuốc cấp cứu rối loạn nhịp  

Cách phòng chống và điều trị sinh lý tim mạch?

Điều trị sinh lý tim mạch gồm hai phương pháp điều trị là

Phương pháp điều trị nguyên nhân không bằng thuốc là cần tập trung xử trí nhanh các nguyên nhân hình thành.

Phương pháp điều trị nguyên nhân bằng thuốc có thể kể đến thuốc liều Isoproterenol, thuốc tiêm Atropin, thuốc liều Procainamid và Adenosin cùng với trong trường hợp cần thiết, cần áp dụng một hoặc nhiều phương pháp xử trí chống loạn nhịp đồng thời. Phương pháp này bao gồm dùng thuốc chống loạn nhịp, sốc điện chuyển nhịp hoặc phá rung, máy chuyển nhịp – phá rung tự động là ICDs, máy tạo nhịp tim, máy tạo nhịp tái đồng bộ tim là một dạng đặc biệt của máy tạo nhịp, triệt đốt rối loạn nhịp qua đường ống thông, phẫu thuật.

Hai phương pháp điều trị trên sẽ phụ thuộc vào từng cá thể, dựa trên mức độ triệu chứng hoặc nguy cơ của rối loạn nhịp tim. Trong trường hợp, rối loạn nhịp tim không có triệu chứng đặc biệt và không có nguy cơ cao thì không cần điều trị ngay cả khi có tiến triển xấu hơn. Còn đối với rối loạn nhịp tim có triệu chứng thì cần điều trị để cải thiện chất lượng sức khỏe cuộc sống để chúng không ngày một đe dọa đến tính mạng mà phải cần được điều trị nhanh kịp thời. 

Tham khảo: collagen là gì, collagen là gì, collagen là gì, collagen là gì, tìm hiểu serum dưỡng trắng da